Lê Xuân Khoa - Điếu văn Doãn Quốc Sỹ

08 Tháng Mười Hai 20258:33 SA(Xem: 816)

Khi đánh giá sự nghiệp của một nhân vật có ảnh hưởng trong xã hội, người ta thường nhắc đến câu “Cái quan định luận”, có nghĩa là giá trị của nhân vật đó chỉ có thể được nhận định một cách khách quan và công bằng khi nắp quan tài đã đậy lại, tức là sau khi nhân vật nổi tiếng đó đã qua đời.

Riêng trường hợp Doãn Quốc Sỹ thì rất khác. Cuộc đời của ông đã được đánh giá khách quan và công bằng ngay khi ông còn tại thế. Cũng như nhiều thanh niên yêu nước tham gia Việt Minh kháng chiến chống Pháp năm 1945 nhưng thất vọng khi Việt Minh lộ diện là cộng sản, ông bỏ chiến khu trở về Hà Nội năm 1950. Ông theo học Đại Học Văn Khoa Hà Nội và gia nhập Nhóm Nghiên cứu Văn Hóa Dân Tộc do GS Khoa trưởng Nguyễn Đăng Thục cầm đầu nhằm xây dựng ý thức hệ dân tộc chống lại chủ nghĩa duy vật và đấu tranh giai cấp của cộng sản. Khi đất nước bị chia đôi năm 1954, Doãn Quốc Sỹ di cư vào Nam, dạy học và viết sách viết báo. Do bản chất hiền hòa, đôn hậu, ông không chống cộng bằng lý luận hay học thuyết chính trị, không hô hào nổi dậy, mà chỉ bằng việc tường thuật khách quan những trải nghiệm cá nhân trước những chính sách sai lầm, ác độc và lừa dối nhân dân  của nhà nước cộng sản. Đây là thời gian sáng tác phong phú và có giá trị nhất của ông, đúng với tinh thần vô úy, vô cầu vá lòng từ bi của nhà Phật.

Tôi có chép được một câu trả lời cuộc phỏng vấn nhà văn và nhá giáo Doãn Quốc Sỹ về quan điểm chính trị của ông. Tôi chép lại câu này mà không nhớ tên người phỏng vấn, “Ở thế giới thực dân, tư bản, người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn. Ở thế giới Cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại.  Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng  Tình Thương Yêu rộng rãi và chân thật”.

Trong hơn 12 năm bị hành hạ ác độc trong trại tù cải tạo, kẻ sĩ Doãn Quốc Sỹ đã hoàn toàn “sống Thiền”, vượt lên khỏi mọi khó khăn, đau khổ của thế gian và đạt tới trạng thái an nhiên, tự tại. Ông không chỉ đem lại được bình an, hạnh phúc cho chính mình; ông còn làm cho kẻ thù của ông phải thán phục.  Tôi rất tâm đắc nhận định của bình luận gia Đỗ Quý Toàn trong bài viết “Thế Đấy”: “Doãn Quốc Sỹ sống tự nhiên như thế, không hề cố gắng. Ông viết cuốn “Vào Thiền, tái bản nhiều lần. Bị cộng sản bắt bỏ tù, vào trong tù, ông ngồi thiền. Quản giáo bắt đi nghe gì thì đi. Có gì ăn thì ăn, lúc nào được ngủ thì ngủ. Bị bắt lần thứ hai, vẫn như vậy, lại ngồi thiền. Thở vào, thở ra, nhẹ như mây bay, vững như núi đá.”

Tôi cũng rất đồng ý với nhà báo và nhà nghiên cứu uyên thâm về Phật giáo Thiền tông Phan Tấn Hải khi ông gọi Doãn Quốc Sỹ là “Nhà văn Thần thoại”. Chỉ tiếc là ông Hải đã không biết hay không nhớ đến cuốn truyện thần thoại “The Last Unicorn” của Peter S. Beagle mà tôi đã chọn lựa và giới thiệu cho nhà văn Doãn Quốc Sỹ đọc và dịch năm 1973. Khi đó, tôi là Giám đốc NXB Hiện Đại do Hội Việt-Mỹ ở Saigon bảo trợ. Trong Lời Giới Thiệu cuốn sách, Ông Sỹ viết: “Tôi đọc miệt mài và đọc kỹ. Peter S. Beagle là một trong những tác giả Tây phương hiếm hoi thấu hiểu tinh thần Dịch lý Âm, Dương và tinh thần phá chấp, vô cầu cực kỳ thanh thoát của Thiền. Tôi dịch THE LAST UNICORN  với một tinh thần tri kỷ”.

Tôi quen thân với anh Doãn Quốc Sỹ đã 75 năm qua từ ngày chúng tôi là môn sinh về triết học Đông phương của GS. Nguyễn Đăng Thục và cùng là thành viên của Nhóm Nghiên cứu Văn Hóa Dân tộc Việt Nam tại Đại học Văn Khoa Hà Nội như đã nói ở đầu bài. Tôi cũng có nhiều kinh nghiệm đắng cay và thất vọng với Mặt trận Việt Minh chống Pháp từ thời còn là học sinh Trung học, nhưng anh Sỹ lớn tuổi hơn tôi nên có nhiều trải nghiệm thực tế và phức tạp hơn. Dù cùng chia sẻ lý tưởng chung, nhất là cùng thấm nhuần triết lý sống vô trụ, vô cầu của trường phái Thiền Tông, nhưng anh Sỹ thiên về tu dưỡng và “sống Thiền”, trong khi tôi chịu ảnh hưởng sâu đậm của truyền thống tam giáo đồng nguyên Nho-Lão-Thích. Tam giáo đồng nguyên vì hành động nhập thế vô cầu của kẻ sĩ (hành tàng bất nhị kỳ quan) cũng chính là thái độ xuất thế vô vi cùa thiền sư hay đạo sĩ (vô vi nhi vô bất vi). Do đó, tôi cảm phục nếp sống Thiền toàn vẹn của anh Sỹ như một mẫu hình lý tưởng , trong khi anh luôn tin cậy và tán thành tôi thực hiện những dự án vị tha có lợi ích cho xã hội.

Vì thì giờ có hạn, tôi không thể phát biểu thêm về những kỷ niệm hay cảm nghĩ riêng của tôi với người bạn rất đáng kính mến của tôi, nhưng trước khi dứt lời, tôi không thể không chia sẻ với quý vị một kỷ niệm đặc biệt của tôi về phong cách “sống Thiền” của nhà giáo và nhà văn Doãn Quốc Sỹ.

Tháng 7, 1990, nhân chuyến đi Úc tham dự Đại hội Văn hóa Giáo dục Việt Nam tại Brisbane, thuyết trình về đề tài “Người Việt Hải ngoại và Văn hóa Dân tộc”, tôi còn có cơ hội trực tiếp vận động chính phủ và quốc hội Úc yêu cầu Hà Nội phóng thích hai ông Doãn Quốc Sỹ và Võ Đại Tôn là hai tù nhân chính trị có thân nhân định cư ở Úc, phù hợp với tinh thần các thỏa hiệp hợp tác và phát triển quan hệ giữa hai nước.  Nhờ sự thu xếp trước của Đại Sứ quán Úc tại Hoa Kỳ, tôi đã có những buổi thảo luận tích cực với bốn nhân vật làm chính sách về di dân và tị nạn tại Úc mà báo Việt Luận ở Sydney ngày 20.7.1990 đã tường thuật khá đầy đủ. Đây là một nỗ lực vận động thích hợp và có hiệu quả nhất đúng vào thời điểm CHXHCNVN đang cần mở rộng quan hệ với các nước Tây phương, nhất là đang nóng lòng mong đợi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận kinh tế và bình thường hóa quan hệ hợp tác song phương. Kết quả là Nhà văn Doãn Quốc Sỹ được trả tự do tháng 11 năm 1991 và một tháng sau chiến sĩ Võ Đại Tôn cũng được trả về với gia đình ở Úc. Kết quả này cũng là thắng lợi chung do những đòi hỏi liên tục của những nhân vật và tổ chức quốc tế bảo vệ nhân quyền từ sau ngày “nhà văn thần thoại” bị bắt lần thứ hai năm 1984.

Mùa Hè năm 1992, sau khi tham dự Hội nghị các Tổ chức Nhân đạo Quốc tế ở Hà Nội với mục đích thăm dò tính khả thi của dự án giúp những đồng bào bị cưỡng bách hồi hương từ các trại tạm trú ở một số quốc gia Đông Nam Á, tôi đã bay thẳng vào Saigon để thăm hai ông bạn chí thân mới được trả tự do mấy tháng trước là Doãn Quốc Sỹ và Như Phong Lê Văn Tiến. Tôi cũng rất muốn gặp ông Võ Đại Tôn nhưng khi đó ông đã trở về Úc. Tôi vội tới thăm nhà báo kiêm mưu sĩ chính trị Như Phong vì nghe tin ông bị kiệt quệ sau mấy tuần tuyệt thực, nhưng rất vui mừng vì thấy ông đã hồi phục hoàn toàn và vẫn là nguồn hiểu biết sâu sắc về nội bộ đảng cộng sản Việt Nam.

Tôi cũng khỏi cần thuật lại nỗi xúc động và niềm vui khôn tả khi tới thăm gia đình anh chị Doãn Quốc Sỹ sau hai lần anh bị đầy đọa cùng cực, tổng cộng trên 12 năm, trong ngục tù cộng sản. Vẫn biết anh “sống Thiền” suốt từ ngày di cư vào Nam, tiếp tục sinh hoạt với nhóm nghiên cứu Văn hóa Dân tộc và Văn hóa Á châu, thành lập Nhóm Văn nghệ Sáng Tạo, tu nghiệp sư phạm ở Hoa Kỳ cho đến ngày trở thành tri kỷ của nhà văn thần thoại Hoa Kỳ Peter S. Beagle qua tác phẩm “Con Kỳ Lân Cuối Cùng” đã được dịch ra 20 ngôn ngữ Đông-Tây, phát hành trên 6 triệu cuốn, làm thành phim và được nhiều giải thưởng quốc tế hàng đầu.

Khi nghe tôi than phiền về quá ít thì giờ đi thăm bạn bè, chị Sỹ đã tổ chức một bữa ăn tại gia cho tôi gặp lại một số bạn đồng nghiệp cũ. Tới ngày họp mặt, đông tới hai chục người gồm cả anh Như Phong, tôi cảm thấy lo ngại cho tình trạng an ninh của anh Sỹ. Tôi than riêng với anh: “Tôi đã có quốc tịch Mỹ và được chính phủ Mỹ bảo vệ, nhưng còn anh, hai lần bị tù về tội “đầu xỏ biệt kích văn nghệ” nên tôi rất lo cho anh. Anh nghĩ sao?” Nhà văn thiền sư vỗ vai tôi, thản nhiên đáp “Thì mình lại trở vô, đâu có gì khác!”

Tôi không còn gì đáng nói thêm về nhân cách siêu phàm của nhà văn thần thoại và thánh thiện Doãn Quốc Sỹ.

Kính cầu chúc hương linh Hạnh Tuệ Doãn Quốc Sỹ yên vui cõi Niết Bàn vĩnh cửu.
Khoa Sỹ403897908_7470768262937553_1523084511771243870_n